{A satirical TED Talk, inspired by Dostoevsky and given by a 10-year-old}

xem

TED Blog

In "The Thought Leader" by Liz Magic Laser, 10-year-old Alex Ammerman gives a TED Talk that ponders the "dark chasm of meaninglessness." Photo: Courtesy of Liz Magic Laser In “The Thought Leader,” a satire create by artist Liz Magic Laser, 10-year-old Alex Ammerman gives a TED Talk that ponders the “dark chasm of meaninglessness.” And he does it perfectly. Photo: Courtesy of Various Small Fires, Los Angeles

On the surface, the talk is “TED-like”: the round red carpet, the well-rehearsed speaker, the shadowy audience, the headset mic.

But quickly, discordant elements begin to register: the strange parenthetical markings on the floor, the inappropriate audience responses, the fact that the speaker himself is a 10-year-old boy.

Welcome to “The Thought Leader,” a satire on media spectacle and mindless optimism created by artist Liz Magic Laser for her solo exhibition at the Los Angeles gallery Various Small Fires. In “The Thought Leader,” Laser plays with the impact of delivering a bleak message in the TED Talk format.

See, in watching talks, Laser noticed a theme — a…

View original post 481 more words

Oxford Dictionaries Add ‘Janky,’ ‘EGOT’ and ‘Ridesharing’

xem

TIME

Oxford Dictionaries Online added hundreds of words and phrases to its online database Thursday, many of which reflect the technology-influenced world we live in.

This branch of the Oxford family is focused on modern usage: the language people are using now. And if the addition is any indication, we are talking a lot about tech—from ridesharing to bioprinting—, not to mention using more abbreviations and acronyms as words.

Here are some highlights from the quarterly update, along with definitions:

AFAIC (abbrev.): abbreviation for ‘as far as I’m concerned.’

awk (adj.): of a situation, causing uneasy embarrassment; awkward or uncomfortable.

bioprinting (n.): the use of 3D printing technology with materials that incorporate viable living cells, e.g. to produce tissue for reconstructive surgery.

colorblocking (n.): in fashion and design, the use of contrasting blocks or panels of solid, typically bright color.

data scientist (n.): a person employed to analyze and interpret…

View original post 301 more words

At Night, Paris, France

xem

life to reset

concorde
The urge to walk at night and see Paris under the moonlight is something that is hard to resist particularly if you enjoy movies like Midnight in Paris, with wishful thinking that you might meet Ernest Hemingway along the way.
paris
paris
louvre

I was searching for Ernest Hemingway indeed, though there was no 1920s Peugeot Type 176 to take me back in time, there is a specific place where at I can trace some of his steps along with the other great writers of his generation and so I head to 37 Rue de la Bûcherie in search for Shakespeare and Company bookstore.

Selling rare books together with mass market paperback English fictions, the two-story Shakespeare and Company is a special bookshop.

Oh the glorious smell of books and the brilliant setup of second floor Sylvia Beach Memorial Library, my heart skip literally as I patiently wait for my turn to climb…

View original post 249 more words

A Son’s Photographic Journey to Reclaim His Father

Xem

TIME

“On Nov. 10, 2014, a motorcycle accident left my father paralyzed and laying in a South African hospital bed by himself. I put my life on hold so I could go and help him fight for his.”

That’s how Ian Willmsdescribes the photographic project that represents both a break in his career and a coming together in his life.

When the accident happened, Willms, a Canadian documentary photographer, had spent the previous two years working on a series of photographs shot around the U.S. and Canada as he rode Greyhound buses from state to state. One day, as his bus arrived in the small town of Sault Ste. Marie in Northern Ontario, he received a text message from his sister: “Dad was in a serious motorcycle accident. I need to talk to you.”

On a tour in South Africa, his dad’s bike had left the road and hit a…

View original post 1 048 more words

Một cách hiểu các bài kệ Xuân của ba thiền sư thời Lý ….Blog Xuân Diện

Một cách hiểu các bài kệ Xuân của ba thiền sư thời Lý

Tạ Quốc Tuấn

Blog Xuân Diện

04:09′ PM – Thứ năm, 19/02/2015

Lời dẫn: Thưa Ông Tạ Quốc Tuấn, xin cảm ơn Ông đã lại gửi bài cho chúng tôi. Chúng tôi đăng bài này lên, trước là dâng lên Tam Bảo chứng minh Bồ Đề tâm của Ông, sau là để chia sẻ cùng các Phật tử và khách văn khắp hoàn vũ thưởng thức bên ấm trà sen Tết cổ truyền.

Xin dâng lời cầu nguyện Đức Như Lai ban phúc lành cho Ông cùng bửu quyến và tất cả những ai ghé qua hiên trà này, đọc bài này đều được hồng ân của Phật.

Một điều đáng làm chúng ta chú ý là những bài thơ xuân đầu tiên trong văn học Việt-nam mà hiện nay vẫn còn tồn tại lại là những bài kệ xuân của ba thiền-sư thời nhà Lý (1009-1225) là Chân-không, Mãn-giácGiác-hải. Hơn nữa, tuy nói đến xuân nhưng những bài kệ này thực sự không phải là những bài thơ sáng tác để tả cảnh xuân, ý xuân, ảnh hưởng của xuân đối với thiên nhiên, đối với con người, như những thi tác của các thế hệ sau, mà chỉ là những bài kệ (do đó chúng tôi tạm gọi là những bài “kệ xuân”) làm để trả lời một câu hỏi hoặc làm lúc tác giả sắp viên tịch. Tác giả mượn cảnh xuân hoặc ý xuân để diễn tả một vấn đề giáo lý Phật giáo nào đó, nhất là vấn đề liên quan đến sự sống chết của con người.

I.- Lời Kệ của Thiền-sư Chân-không

Bài thơ xuân đầu tiên là lời kệ của thiền-sư Chân-không (946-1001).

Người đời luôn luôn có nhiều thắc mắc mà khi không giải đáp được một cách thỏa đáng thì sinh ra đau khổ, buồn sầu. Một trong những thắc mắc đó, và có thể coi là thắc mắc lớn lao, quan trọng nhất, khiến nhiều người phải bận tâm nhất, là sự sống chết của con người.

Từ nghìn xưa, con người vẫn thắc mắc là mình từ đâu đến và khi chết sẽ đi đâu, cũng như thắc mắc là con người sinh ra ở trên đời để làm chi bởi vì trước sau, sớm muộn gì, con người cũng phải chết. Do đó mới có tình trạng con người tham sống sợ chết, và tìm đủ trăm phương nghìn kế để kéo dài cuộc sống của mình. Việc Tần Thủy-hoàng-đế Doanh-Chính 秦始皇帝 嬴政 (Tần-vương năm 246-221 TCN và Thủy-hoàng-đế năm 221-209 TCN) năm 219 TCN đã sai Từ-Phúc 徐福 dẫn hơn một nghìn đồng nam đồng nữ vượt biển đi tìm thuốc trường sinh bất tử, cũng như việc Hán Vũ-đế Lưu-Triệt 漢武帝 劉徹 (tại vị năm 140-86 TCN) cho luyện kim đan để mong được sống lâu, là những thí dụ điển hình.

Ngay cả các vị tu sĩ vốn không nên có những thắc mắc về vấn đề sống chết của con người, nhưng cũng có một vài vị vẫn cưa đạt được đến độ này. Chẳng hạn có một vị tăng một hôm đến hỏi thiền sư Chân-không là khi xác thân người ta bại hoại thì sẽ như thế nào. Thiền sư Chân-không bèn đáp bằng hai câu kệ:

春來春去疑春盡,
花落花開只是春.

Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận,
Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân.

Hai câu này đã được cố giáo sư Nguyễn-đăng-Thục (1909-1999) dịch sang Việt ngữ như sau:

Xuân qua xuân lại ngờ xuân tận,
Hoa nở hoa tàn vẫn là xuân.

Thiền sư Thích Thanh-từ (s. 1924) cũng dịch tương tự:

Xuân đến, xuân đi ngỡ xuân hết,
Hoa nở hoa tàn chỉ là xuân.

Trong khi hai dịch giả trên khi dịch sang thơ Việt ngữ vẫn giữ nguyên thể thất ngôn của nguyên tác thì Phạm-tú-Châu lại dịch theo thể lục bát:

Xuân qua lại, ngỡ xuân tận,
Hoa dù rụng nở, vẫn hoàn tiết xuân.

Thiền sư Chân-không đã mượn trạng thái xuân đến và xuân đi, cũng như hình ảnh hoa nở hoa tàn, để nói lên một sự thực không ai phủ nhận, dị nghị được: đó là đừng nên nghĩ rằng sau khi xuân đến rồi đi thì cho rằng xuân đã hết, đã tận, và không bao giờ còn nữa, cũng như đừng cho rằng khi hoa nở thì xuân đến còn lúc hoa tàn thì xuân đã hết. Sự thực thì xuân chỉ có tuần hoàn, nghĩa là xuân đến rồi đi, rồi lại đến rồi lại đi, cứ tiếp tục như vậy từ thuở khai thiên lập địa cho đến hiện tại và sẽ còn tiếp diễn trong tương lai cho đến vô cùng tận. Nói cách khác, xuân là một trạng thái thiên nhiên bất biến; còn sự đến và đi của xuân, cũng như sự nở và tàn của hoa, chỉ là một sự tuần hoàn thôi.


Con người cũng vậy. Tuy nhìn bề ngoài chúng ta thấy rõ ràng con người sinh ra, lớn lên, rồi chết đi, nhưng cái mà chúng ta nhìn thấy đó chỉ là cái thân xác, cái sắc, cái tướng thôi. Nó chỉ là cái hình thể vật chất, nghĩa là cái vẻ bề ngoài, luôn luôn thay đổi, nên có tính cách phù du, tạm bợ. Đó là cái nhìn của người phàm. Trái lại, nếu suy ngẫm kỹ hơn, chúng ta sẽ nhận thấy cái mà chúng ta nhìn thấy và gọi là thân xác, thực ra chỉ là một tổng hợp của nhiều yếu tố, như: máu, thịt, da, xương, tủy, gân, v.v. Tất cả những thứ ấy là những yếu tố bất chắc, không bền vững, dễ bị hủy hoại, dễ hư nát. Đó không phải là con người thật. Giống như mùa xuân có đến có đi, nhưng xuân vẫn là xuân, bởi vì xuân bất biến, con người thể xác tuy trải qua các giai đoạn sinh ra, lớn lên, rồi chết đi, thân xác tiêu tan hết, nhưng con người thật, nghĩa là cái hồn của con người, vẫn còn, bởi vì nó cũng bất biến.

Nếu con người đã như vậy thì còn thắc mắc đến cái còn, cái mất, cái bại hoại của thân xác mà làm chi? Chúng ta không nên chấp vào cái lý của mình để nhìn vào thế gian và sự đời, mà phải biết tự lọc lấy cái tâm mình, để có thể hòa mình vào với vũ trụ thiên nhiên. Hay như lời giáo sư Nguyễn-Đăng-Thục,

“… thực tại nguồn sống thường nhiên tiềm tàng linh động đằng sau hiện tượng thiên hình vạn trạng, hiện tượng hủy diệt biến đổi, ẩn hiện, mà cái nguồn sống đại đồng sinh sinh tự nhiên luôn luôn tồn tại, không có sống chết bất di bất dịch.(1)

Tiện đây chúng tôi xin mở một dấu ngoặc để nói là câu thứ hai lời kệ của thiền sư Chân-không “Hoa lạc hoa khai chỉ thị xuân” nếu dịch đúng nguyên văn sẽ là “Hoa rụng hoa nở chỉ là xuân.” Tuy nhiên, câu này đã được giáo sư Nguyễn-đăng-Thục dịch là “Hoa nở hoa tàn vẫn là xuân”, và Phạm-tú-Châu dịch là “Hoa dù rụng nở, vẫn hoàn tiết xuân” như vậy đã lột được hết ý của thiền sư Chân-không, hơn là câu dịch “Hoa nở hoa tàn chỉ là xuân” của thiền sư Thích Thanh-từ.

Thực vậy, ý của thiền sư Chân-không là khi thấy xuân đi, cũng như thấy hoa tàn lúc xuân đi, thì không nên nghĩ rằng xuân đã hết, vì sau khi xuân đi rồi xuân sẽ lại đến, cũng như sau khi hoa tàn rồi hoa sẽ lại nở. Đó chỉ là những biến chuyển tuần hoàn, nghĩa là trạng thái dịch của xuân thôi, chứ xuân thì vĩnh viễn bất biến. Như vậy, từ “vẫn” trong câu dịch của giáo sư Nguyễn-đăng-Thục và của Phạm-tú-Châu dùng đúng hơn, vì từ “vẫn” diễn tả được cái bất biến của xuân. Từ “vẫn” có ý là “cứ như thế”, nghĩa là nó ngụ ý chỉ sự không thay đổi, sự bất biến của một trạng thái (cũng như phẩm chất). Hơn nữa, từ “vẫn” nói lên ý niệm khẳng định, đề quyết, chắc chắn. Trái lại từ “chỉ ” mà thiền sư Thích Thanh-từ dùng cho thấy sự không chắc chắn, thiếu khẳng định, vì từ này diễn tả ý “có thế thôi” hay “không có gì khác”, nghĩa là tuy nó nói lên một sự thực đơn độc, duy nhất, nhưng không mang ý bất biến, nên không lột được hết ý của thiền sư Chân-không.

II.- Lời Kệ của Thiền-sư Mãn-giác

Mặt khác, mỗi khi xuân sang, những người còn trẻ, còn sức lực, thì vui mừng đón xuân vì cho rằng xuân sẽ đem lại cho họ những cái hay, cái tốt, cái lạ, cái may mà năm qua họ không có, hay bị mất đi. Tuy nhiên, cũng có nhiều người, đại đa số là những người già, lại có thái độ bi quan, yếm thế hơn. Họ thấy rằng mỗi một mùa xuân tới thì họ lại già thêm một tuổi; hơn nữa, xuân lại đến quá nhanh khiến họ không sao trở tay kịp, vừa mới ngày nào “mang tiếng khóc bưng đầu mà ra” (Cung Oán Ngâm Khúc, câu 56), như lời Ôn-như-hầu Nguyễn-gia-Thiều (1741-1798), thế mà chưa chi đã lâm vào cảnh mà Tản-đà Nguyễn-khắc-Hiếu (1889-1939) mô tả là “cái già sồng sộc nó thì theo sau ” (Chơi Xuân Kẻo Hết Xuân Đi, câu 84)

Thêm một mùa xuân là thêm một năm được thấy những đổi thay trong vũ trụ cũng như chung quanh họ. Tệ hơn nữa là tất cả những đổi thay này, họ không cách nào ngăn chặn được, không thể kìm hãm hay níu kéo lại được, vì họ quá bé nhỏ, chỉ là những hạt cát trong vũ trụ bao la bát ngát, vì họ thấy mình bị giam hãm trong một cái khung chật hẹp là quả đất nơi họ đang sinh sống và cái khung thời gian quá ngắn ngủi là cuộc đời trên dưới một trăm năm trong khi thiên nhiên lại vô hạn vô biên, vô thủy vô chung, vô cùng vô tận. Họ giống như Khổng-tử 孔子 (550-479 TCN) của Trung-quốc đã thốt lên lời “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ!” 逝者如斯夫, 不舍晝夜 (Luận Ngữ, q. 9, ch. 16), nghĩa là “Trôi mãi như thế kia, ngày đêm không thôi!”, khi đứng bên giòng sông nhìn thấy nước cứ trôi đi mãi về phía chân trời xa tắp mù khơi không bao giờ cùng tận, giống như giòng đời biến hóa (thiên địa chi hóa 天地之 化) mãi mãi không lúc nào ngừng.

Hoặc như Nguyễn-Du (1766-1820), họ đã phải thở than:

Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
(Kiều, câu 3-4)

Đối với những người có thái độ này, thiền sư Mãn-giác (1051-1096) khuyên rằng tất cả mọi sự vật trong vũ trụ không có gì là vĩnh viễn cả, tất cả chỉ tại con người đã đem mình đối chiếu với vũ trụ và đem cái đoản sinh sánh với cái trường tồn, tất cả chỉ tại mình tự đặt mình đứng bên ngoài vũ trụ mà ngắm nhìn vũ trụ, không biết hội nhập vào vũ trụ thiên nhiên.

春去百花落,
春到百花開.
事逐眼前過,
老從頭上來.
莫謂春殘花落盡,
庭前昨夜一枝梅.

Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Sau đây là bản dịch bằng thơ Việt ngữ của Ngô-tất-Tố (1894-1954):

Xuân trỗi trăm hoa rụng
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt, việc đi mãi,
Trên đầu, già đến rồi!
Đừng tưỏng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua, sân trước, một cành mai.

Bài thơ dịch thứ hai, theo thể lục bát, là của Tản-đà Nguyễn-khắc-Hiếu:

Xuân đi muôn vạn hoa tàn
Xuân về thắm lại ngập tràn những hoa
Việc đời thế sự đi qua
Trên đầu tuyết điểm một vài cọng sương
Chờ cho xuân hết hoa tàn
Đêm qua sân trước nở vàng cành mai

Người dịch thứ ba là Thiền sư Thích Thanh Từ:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua – sân trước – một cành mai.

Người dịch thứ tư là Lê-mạnh-Thát (s. 1944).

Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Việc đời qua trước mắt,
Già đến trên đầu rồi !
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân đêm trước một cành mai.

Trong quan niệm của thiền sư Mãn-giác, chúng ta không nên quá bi quan trước sự tuần hoàn của vũ trụ thiên nhiên, không nên quan tâm tới cảnh xuân đến thì hoa nở, xuân đi thì hoa tàn, cũng như sự đời trôi qua trước mắt vô cùng tận và đem đến cái già trên đầu mình. Thực vậy, chúng ta đừng nên nghĩ là lúc xuân tàn tất cả mọi bông hoa đều rụng hết, cây cối trở nên trơ trụi, bởi vì vừa mới đêm qua thôi ở trước sân đã có một cành hoa mai nở rồi. Cành hoa mai ở đây tiêu biểu cái bất sinh bất diệt của vũ trụ thiên nhiên mà nếu con người cố gắng tu luyện thì sẽ có thể vượt ra khỏi sự tuần hoàn của thiên nhiên để hội nhập vào cái trường tồn của vũ trụ.

Chúng ta đừng nên có thái độ như con người mà thi nhân Trung-quốc Trần Tử-ngang 陳子昂 (659-700) diễn tả trong bài thơ Đăng U-châu Đài Ca 登幽州臺 歌:

前不見古人,
後不見來者.
念天地之悠悠,
獨愴然而涕下.

Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả.
Niệm thiên địa chi du du,
Độc thương nhiên nhi thế hạ.

Trần-trọng-San đã dịch bài thơ này sang thơ Việt ngữ, theo thể song thất lục bát, nhan đề Bài Ca Lên Đài U-châu.

Ngoảnh lại trước: người xưa vắng vẻ;
Trông về sau: quạnh quẽ người sau.
Ngẫm hay trời đất dài lâu,
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.

Nói cách khác, con người phải biết gạt bỏ sự phân biệt ngoại giới với nội giới, cái ta và vũ trụ, phải biết cảm thông với vũ trụ thiên nhiên, nghĩa là đem cái đoản sinh của mình hòa với cái trường tồn của vũ trụ thiên nhiên, đem cái cục hạn của mình nhập vào cái bao la bát ngát, vô hạn vô biên của vũ trụ thiên nhiên. Được như vậy thì đâu còn sống chết, quá khứ, vị lai nữa mà phải đau buồn cho những gì đã qua đi, mất đi, cũng như phải lo âu cho sự gì sẽ tới, lo cho cái già đổ trên đầu mình, lo cho xuân tàn hoa rụng, bởi vì trong cái tiêu điều của xuân tàn hoa rụng đó đã có một cành mai hé nở làm vui lòng người rồi. Vì thế chúng ta chỉ nên quan tâm đến cái hiện diện của vũ trụ vĩnh cửu, thường hằng, vô thủy vô chung thôi. Được như vậy thì chúng ta sẽ thấy mọi sự ở trên thế gian này chỉ là huyễn ảo, mộng ảo, không đáng cho chúng ta phải quyến luyến nữa.

III.- Lời Kệ của Thiền Sư Giác-hải

Quan niệm cuộc đời là huyễn ảo một lần nữa lại được đề cập tới trong bài kệ của thiền sư Giác-hải (sống khoảng cuối thế kỷ thứ 11, đầu thế kỷ thứ 12).

春來花蝶善知時,
花蝶應須共應期.
花蝶本來皆是幻,
莫須花蝶向心持.

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì,
Hoa điệp ứng tu cộng ứng kỳ.
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn,
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.

Ngô Tất Tố đã dịch sang thơ Việt ngữ như sau:

Xuân sang hoa bướm khéo quen thì,
Bướm lượn hoa cười vẫn đúng kỳ.
Nên biết bướm hoa đều huyền ảo,
Thây hoa mặc bướm, để lòng chi.

Người dịch thứ hai là Lê-mạnh-Thát:

Xuân đến bướm hoa khéo biết thì,
Cần nhau hoa bướm biết nhau khi.
Bướm hoa vốn thảy đều hư huyễn,
Chớ đem hoa bướm giữ lòng chi.

Sự sống chết của con người đối với vũ trụ không khác gì hoa và bướm đối với mùa xuân. Hoa cũng như bướm vốn quen biết thời gian nên khi mùa xuân tới hoa sẽ nở và bướm sẽ lượn bay đúng kỳ hạn. Tuy nhiên, cái mà chúng ta gọi là hoa, là bướm lại chỉ là huyễn ảo mà thôi, chứ không là thực, cho nên chúng ta không nên bận tâm đến chúng làm chi. Sự sống chết của con người cũng vậy. Còn nghiệp duyên thì con người còn sống; nếu hết, con người sẽ chết. Sự sống chết của con người vì thế cũng chỉ là cảnh huyễn ảo, đâu phải là thực tướng của vũ trụ! Vì vậy chúng ta cũng chẳng nên quá lo lắng, bận tâm về cái sống hay cái chết của mình nữa.

Nói tóm lại, ba bài kệ của các thiền sư Chân-không, Mãn-giác và Giác-hải mượn cảnh xuân để hướng dẫn mọi người tìm được con đường tự giải thoát những đau khổ của mình do sự lầm tưởng cảnh và thực cũng như sự tách biệt mình và vũ trụ gây ra. Con đường tự giải thoát đó là phải coi mọi sự vật chung quanh mình và chính thân xác mình là huyễn ảo, để khỏi quá bận tâm đến sự sống chết, đến thân xác hủy hoại của mình, đến trạng thái phù du của cuộc đời tạm bợ và ngắn ngủi của con người, mà cho rằng đời người cô đơn, cô lập, bé nhỏ để rồi sinh ra bi quan yếm thế; trái lại phải biết tham dự vào cuộc tuần hoàn của vũ trụ, biết hội nhập vào sự vĩnh cửu của trình tự thiên nhiên.

Chú Thích:

(1) Nguyễn-Đăng-Thục, Thiền Học Việt Nam, Lá Bối, Sài-gòn, 1967, Xuân Thu, Los Alamitos, California, in lại (không ghi năm in lại), tr. 325.

CHỐN NHÂN GIAN KHÔNG THỂ HIỂU….

Chốn ‘Nhân Gian Không Thể Hiểu’

Chốn ‘Nhân Gian Không Thể Hiểu’

Ngọc Lan/Người Việt  – 22 Feb 2015

Little Saigon: Cuối năm, thăm mộ phần của những người nổi tiếng 

WESTMINSTER, California – Người sống quanh Bolsa ai lại không biết Peek Family, nơi dừng chân cuối cùng của nhiều người, và có thể của chính chúng ta.
Ngày mới đến định cư nơi Little Saigon này, mỗi tuần không biết bao bận tôi ngược xuôi ngang đây, đưa con đến trường và tôi đi học.

Peek Family vì thế trở nên… quen, như thể tôi quen với con đường Bolsa, quen với con đường Bushard, quen với Westminster với Beach, Brookhurst và Moran.

Thế nên, quả thực, chưa bao giờ tôi nhìn ra màu buồn thiu nơi nghĩa trang này. Cố tìm, từ ngoài nhìn vào, cũng chỉ thấy cỏ xanh, mây trắng, và những đóa hoa nhiều màu, những chiếc bong bóng sặc sỡ chen bên bia mộ. Hơn nữa, không lúc nào lại không thấy bóng người ra vào, viếng thăm. Tự hỏi, không biết nghĩa trang có… buồn không?

Hơn chín năm gắn bó đi về, qua lại quanh Trạm Dừng Chân Cuối của nhiều người, cũng không ít lần tôi lái xe vào bên trong cánh cổng ở đường Bolsa lẫn con đường Beach, dự tang lễ những người quen biết. Nhưng hôm nay, ngày Chủ Nhật cuối tuần, sau một ngày mưa nhiều, gió lạnh, tôi, mới lần đầu tiên, ôm trên tay một bó hồng cùng thiên nhang, lững thững bước vào nghĩa trang, trong tâm tình người đi viếng mộ.

Nói là đi viếng, nhưng thực tình tôi chưa có người thân nào yên nghỉ trên mảnh đất này. Tôi cũng chưa được ai dạy qua về cách đi viếng mộ. Tôi tự đi theo cách của mình – một người cầm bút, đi tìm thăm những văn nhân thi sĩ, những người từng dùng chữ mưu sinh, cả viết lách lẫn làm thơ, soạn nhạc.

Chủ Nhật gần cuối năm trong nghĩa trang ngập nắng. Nắng lên sau ngày mưa. Nắng rải đầy lối đi, phủ đầy bia mộ. Nắng rực rỡ.

Peek Family không có cái hun hút đến thảng thốt, rợn người như khi đặt chân đến những nghĩa trang người tị nạn ở Kuku, ở Air Raya, Indonesia. Peek Family không có cái bi ai, nức nở khi tiếng kinh của người Hồi Giáo trong chiều vắng vang lên, nguyện hồn người nơi viễn xứ.

Peek Family có hơi ấm, có bước chân, có tiếng thì thầm, có bàn tay ve vuốt, vỗ về, trò chuyện.

Ði trong Peek Family, giữa những thảm cỏ tươi xanh, giữa những đóa hoa nhiều màu ai đó cắm bên bia mộ, và giữa những người thuộc nhiều sắc dân khác nhau, đang ngồi bên người thân của họ, như chuyện trò, như kể nhau nghe những câu chuyện ngày nào hãy còn dang dở, tôi thấy một nỗi gì bình an đến lạ.Ngôi mộ người không quen tôi dừng lại đầu tiên là nơi an nghỉ của nhà văn Mai Thảo.

Mai Thảo được nhiều người biết đến lúc sinh thời và cả khi mất đi, mười mấy năm rồi, tên ông thoảng tôi vẫn còn nghe nhắc, trong bạn bè ông. Tuy nhiên, nhiều người biết, không có nghĩa là tôi cũng biết, hay làm ra vẻ biết. Tôi không biết gì về ông hết, tôi cũng chưa từng đọc qua một tác phẩm văn chương nào của ông. Nhưng nghe nói ngày ông mất, người ta phải xếp hàng dài lắm và lâu lắm mới đến viếng ông được, vậy là đủ để tôi ngưỡng mộ ông rồi.

Nơi ông nằm, hướng thẳng ra đường Bolsa. Tôi đứng nhìn hàng chữ được viết nơi ông đang ngủ:

“Anh, chị, em và các cháu, Các văn nghệ sĩ và bạn thân
Vô cùng thương tiếc nhà văn Mai Thảo – Nguyễn Ðăng Quý, pháp danh Minh Tâm (8.6.1927 – 10.1.1998)”

Ông không có gia đình riêng, của chính ông?

201900-NV-Mai-Thao-01-4

Tôi ngồi xuống. Vài chiếc lá khô. Ít cọng cỏ vàng, vương vãi nơi mặt ông trên tấm bia. Tôi đưa tay phủi. Nhẹ nhẹ. Tôi cảm giác như tôi đang phủi bụi rơi trên mặt người; phủi nhẹ, kẻo đau!

Mặt mộ không sáng bóng, như dăm ba ngôi mộ gần đó. Tôi cũng không biết là cần phải mang theo chiếc khăn hay cuộn khăn giấy nhúng nước thì mới làm cho mặt nhà mồ sáng mới.

Thôi, đành cứ dùng bàn tay mà phủi đi ít nhiều dấu vết của sự quên lãng.

Mai Thảo là nhà văn, sau này ông làm thơ. Thế nên “ngôi nhà cuối cùng” của ông được chạm bài thơ:

“Thế giới có triệu điều không thể hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”

Tôi đặt lên mộ ông vài cành hồng. Tôi thắp ba nén nhang. (Sau, tôi nghe người bạn nói, Mai Thảo không thích thắp nhang, ông chỉ muốn uống rượu và đốt thuốc mà thôi). Lần sau có trở lại, tôi sẽ mang kính ông ly rượu. Còn hôm nay, ngửi mùi nhang trầm, biết đâu ông cũng thấy dễ chịu, nhất là nhang được đốt từ một đứa chưa từng đọc văn chương ông, nhưng mà nó biết tên ông. Vậy là vui, và ấm lòng. “Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi” là hiểu những điều giản dị như thế, ông nhỉ!

Tôi đặt thêm vài cành hoa, đốt thêm vài nén nhang cho những láng giềng của nhà văn Mai Thảo.

Tôi tiếp tục lang thang, tìm. “Gần gần nơi Mai Thảo là nơi ông Ðỗ Ngọc Yến nằm.” Một đồng nghiệp lớn tuổi nói với tôi qua phone.

Gần đấy có một gia đình nhiều thế hệ, hơn cả 15 người, đứng ngồi quây quần bên nấm mộ, như thể họ đang pinic. Không ồn ào, nhưng không vương nét sầu đau. Người đang ngủ dưới kia, nhìn thấy thân nhân mình như thế, âu cũng vui lây, trong sự ấm áp, sum vầy. Nơi góc kia, có ba người phụ nữ, ra vẻ như một bà mẹ và hai người con gái, cũng không là trẻ, đang lúi cúi chưng hoa, nhặt cỏ, lau chùi nấm mộ người thân. Một ông bác lớn tuổi người Việt cũng đang chăm sóc một nấm mồ hướng ra con đường Bolsa đang ngược xuôi xe qua lại.

Ði “gần gần” hoài chưa nhìn thấy mộ người sáng lập nhật báo Người Việt, tôi đi trở lại nơi mình đậu xe để cất bớt những thứ lỉnh kỉnh.

Thật lạ lùng, xe vừa đóng cửa, dợm bước đi lại chỗ cũ để tìm lần nữa thì lại nhìn thấy tấm bia ghi “Rêmi Ðỗ Ngọc Yến” ngay trước mặt mình. Tôi mỉm cười.

Vẫn bó hoa và nhang trên tay, tôi đứng yên nhìn nơi yên nghỉ của “bác Yến” – như cách gọi của các đồng nghiệp trẻ của tôi.

Mộ bác Yến là ngôi mộ ít chữ nhất trong số những ngôi mộ tôi ghé thăm.

“Rêmi Ðỗ Ngọc Yến
May 25, 1941 Sài Gòn Việt Nam – August 17, 2006 California USA”

201900-NV-Do-Ngoc-Yen-02-4

Bên dưới là hình một quyển sách mở ra, gối đầu lên một quyển đóng.

Chỉ vậy. Rất giản dị. Ðôi dòng chữ đó nằm lệch hết về bên trái, phần bên phải của tấm bia có lẽ được dành cho một người – người mà ông yêu nhất.

Nhiều hoa tươi được trồng, được cắm quanh mộ Rêmi Ðỗ Ngọc Yến. Ðưa tay phủi đi những chiếc lá rụng còn bám trên thành mộ sau ngày mưa gió, tôi lại đặt dăm cành hoa hồng cạnh chân dung ông. Tôi biết ông là người Công Giáo, nhưng tôi vẫn muốn thắp cho ông nén nhang để tỏ lòng với người đã khuất theo phong tục tôi được dạy.

Chụp hình nơi ông đang ngủ, tôi thấy bóng tôi in trên vách mộ. Nghiêng sang bên chụp lại. Một làn gió mạnh tự dưng tạt tới, khói nhang tỏa nhòa trước di ảnh người khai sinh ra tờ báo Người Việt.

Tôi đứng yên nhìn ông đang cười, qua tấm chân dung. Tôi nghe nhiều chuyện kể về ông lắm, chuyện kể với sự thán phục lẫn chuyện kể để bật cười thích thú với câu kết luận, “Ðó là Ðỗ Ngọc Yến.”

Tôi đọc tin ông mất khi tôi sang Mỹ được một năm, đang làm việc tại một trung tâm chăm sóc người già. Tôi nhớ tôi có đọc được những tranh cãi quanh chuyện có nên lấy tên ông đặt tên cho một con đường.

Một năm sau ngày ông mất, tôi trở thành người của Người Việt. Tôi không có cơ may để có bất cứ kỷ niệm nào với ông như nhiều đồng nghiệp tôi có. Nhưng tôi biết tôi cần cám ơn ông vì nhờ ông mà hôm nay tôi có chỗ để viết những điều mình muốn viết, gửi đến mọi người.

Ghé qua thăm láng giềng bác Yến, thật bất ngờ khi thấy “cách nhà bác Yến một căn” là nơi ở thiên thu của vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Nguyễn Thúy Nga.

Cuộc đời dù không mong nhưng quả thật có nhiều điều ngẫu nhiên đến lạ lùng.

Bài hát không là “nhạc đỏ” mà tôi được nghe đầu tiên là “Ðường xưa lối cũ.” Tôi nhớ khi đó tôi còn nhỏ lắm, ngồi trên gác học bài khuya, nghe dưới nhà ba tôi mở bản nhạc này, thật nhỏ (vì không muốn bị bắt). Một âm điệu, một cảm xúc gì thật lạ, thật khác mỗi lần tôi lắng tai nghe

“Ðường xưa lối cũ, có em tôi tóc xanh bay mơ màng.
Ðường chiều dịu nắng, bóng em đi áo nâu in đường trăng.
Ðường xưa lối cũ, có mẹ tôi trông con trong hôn hoàng.
Lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con…”201900-NV-Hoang-Thi-Tho-03-4

Cũng trong những lúc đêm xuống thật sâu như thế, tôi nghe văng vẳng từ chiếc radio của ba tôi những câu hát đưa lòng mình đến chốn nào đó thanh bình, nhẹ nhàng và êm ái mênh mông.

“Em gái vườn quê, cuộc đời trong trắng, dầm mưa dãi nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
Anh biết mặt em, một chiều bên thềm, giọng hò êm đềm,và đôi mắt em lóng lánh sau rèm…”

Lớn lên, khi Sài Gòn dễ thở hơn, tôi mới biết giọng hát từng quyến rũ tôi nhiều đêm đó là của Thanh Tuyền và “Ðường Xưa Lối Cũ,” “Duyên Quê” là của Hoàng Thi Thơ, người viết luôn “Tà Áo Cưới,” “Trăng Rụng Xuống Cầu,” “Gạo Trắng Trăng Thanh,” “Ðám Cưới Trên Ðường Quê,” “Tình Ta Với Mình”…

Biết là biết vậy, đâu ngờ, hôm nay, trong lần đầu tiên làm người đi viếng mộ, tôi lại đứng trước mặt ông, nhìn ông mỉm cười. Cũng hôm nay tôi mới biết mặt ông, người nhạc sĩ cùng với Phạm Duy, từng bị lệnh cấm trở về quê hương rất nhiều năm sau 1975, là một người có nụ cười rất tươi và ánh mắt rất vui.

Tôi tiếp tục đi bộ hướng vào bên trong như kiểu từ Bolsa rẽ về đường Hoover rồi sẽ đến Westminster rồi lại gặp đường Beach, để đi tìm thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên và Nguyên Sa, “hai ông nhà thơ đó nằm gần nhau” – người đồng nghiệp lớn tuổi hướng dẫn tôi như thế.

Lững thững đi, không có gì vội, vừa đi vừa nhìn vừa ngắm sự đa dạng trong Peek Family. Sự chăm chút sạch sẽ hay sự bạc màu cũ kỹ, sự sang trọng hay sự đơn sơ của từng ngôi mộ tôi qua cũng không khác gì lắm với nét muôn màu của những ngôi nhà trong thế giới người sống. Có khác chăng chỉ là sự tĩnh lặng hay ồn ào tiếng nói, tiếng cười, cả tiếng cãi vã.

Tôi dừng lại bên một “ngôi nhà” thật đẹp, thật sang, thật khác những nơi tôi vừa đi qua. Nơi đây như một mảnh vườn được chăm chút chu đáo, lá xanh rì tươi tốt chen cùng cúc vàng, cúc tím, lan trắng, cau kiểng, và nhiều cây tôi không biết tên.

Tôi nhìn thấy “Nhạc sĩ Nhật Ngân – Trần Nhật Ngân” trên nấm mộ dài bằng đá hoa cương trắng trước khi đọc dòng chữ “Nơi an nghỉ ngàn thu nhạc sĩ Nhật Ngân” trên tấm bia bằng đá hoa cương đen.

Bần thần một thoáng. Tôi nhớ hình ảnh ông ôm chiếc guitar say sưa hát, có cả nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, có cả ca sĩ (Lê) Uyên Phương, có cả nhạc sĩ Trần Quang Lộc từ Việt Nam sang, trong một đêm nhạc tổ chức vào một tối cũng những ngày cuối năm, gần Tết. Ðó là đêm nhạc hay nhất tôi từng được xem, đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông, dù rằng không biết bao lần, những “Xuân Này Con Không Về,” “Qua Cơn Mê,” “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về,” “Tôi Ðưa Em Sang Sông,”… khiến tôi rơi nước mắt

201900-NV-Nhat-Ngan-04-4

“Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà”

Dẫu mộ ông nhiều hoa, tôi vẫn muốn đặt thêm lên những cành hồng tôi có, để từ hôm nay, mỗi lần nghêu ngao “Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen/Ðừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn,” tôi sẽ lại nhớ đến ông với nét cười rất duyên và đêm nhạc trong buổi tối lạnh mà dư âm của nó đến giờ vẫn chưa thể quên.

Sau khi tình cờ ghé đến căn nhà đẹp của Nhật Ngân, tôi ngồi bệt xuống trên bãi cỏ, cạnh tấm mộ chìm dưới đất, cũ màu. Tôi thấy dòng chữ “Thi nhân Nguyễn Tất Nhiên.”

Tác giả của lời nhạc “Thà Như Giọt Mưa” với những câu “người từ trăm năm, về phai tóc nhuộm / ta chạy mù đời, ta chạy tàn hơi /quỵ té trên đường rồi /sợi tóc vương chân người” hay “người từ trăm năm, về như dao nhọn /dao vết ngọt đâm, ta chết trầm ngâm /dòng máu chưa kịp tràn,” tự dứt bỏ cuộc đời khi mới bước qua tuổi 40 đôi ba tháng. Trẻ hơn tôi bây giờ.

Dòng chữ trên phần mộ:

“Vô cùng thương tiếc Thi Nhân Nguyễn Tất Nhiên
Anh chị em báo chí, văn nghệ sĩ, thân hữu, bố mẹ, và các em lập mộ 1992”

Lại đưa tôi đến những suy nghĩ vẩn vơ.

Phải mất đến 4 lần chỉ dẫn, nhà báo Hoàng Mai Ðạt mới giúp tôi tìm được “ngay gần nơi đài phun nước đó, có cây như cây bồ đề lớn lắm, Nguyễn Tất Nhiên nằm đó.”

201900-NV-Nguyen-Tat-Nhien-05-4

Nguyễn Tất Nhiên chìm vào giấc ngủ say trong một ngôi chùa, và giờ đây, được nằm mãi dưới bóng cây bồ đề, mặt hướng ra con đường mang tên Biển…

“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!”

Những dòng thơ Nguyễn Tất Nhiên viết 20 năm trước ngày ông “khép mắt sớm hơn giờ thiên định” được ai đó chọn khắc trên mộ ông như lời giải mã cho cuộc đời vốn không êm đềm của người thi sĩ.

“Ðưa em về dưới mưa, chiếc xe lăn dốc già
Ðưa em về dưới mưa, áo em bùn lưa thưa
Ðưa em về dưới mưa, hỡi cô em bé nhỏ
ôi duyên tình đã qua, có bao giờ không xưa?”

Sẽ không xưa bao giờ, với những duyên tình đã qua, tôi muốn nói với Nguyễn Tất Nhiên như thế sau khi đặt xuống những cành hồng cuối cùng còn có trên tay.

“Từ chỗ Nguyễn Tất Nhiên, quay lưng về đường Beach, bước đi chừng mấy chục bước sẽ thấy Ðỗ Mộng Nam, kế bên là Nguyên Sa.” Hoàng Mai Ðạt tiếp tục chỉ cho tôi đường đi.

Cạnh mộ Nguyên Sa có chậu cúc vàng. “Bao giờ cũng có chậu cúc vàng bên mộ Nguyên Sa,” một người bạn nói cho tôi biết. “Ai đặt vậy?” – “Không biết. Chỉ biết từ câu thơ ngày xưa ‘Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc…’ mà giờ đây người ta luôn nhận ra có hoa cúc vàng bên mộ ông.”

201900-NV-Nguyen-Sa-06-4

“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”

Bài thơ khắc bên dưới dòng chữ “Thi sĩ Nguyên Sa.”

Cỏ hoang không có trong Peek Family. Peek Family có nhịp sống, có hơi thở, có tiếng nói, giọng cười, có bước chân đi của hiện tại. Rõ ràng, “tóc vàng” từ hoa cúc vẫn là lời kinh dâng đến mỗi ngày cho người vẫn ngủ say.

Gần “nơi an nghỉ vĩnh cửu” của tác giả “Tháng Sáu Trời Mưa,” có một người phụ nữ đang xem bói cho một người đàn ông, cạnh một ngôi mộ họ vừa chăm sóc, rất thành tâm.

Ðời dương và đời âm dường như rất gần nhau nơi đây. Qua khỏi nơi yên bình này, tôi lại hòa vào dòng đời đang hối hả. Nắng rạng rỡ trên đầu, sau một ngày mưa lạnh.

–-